I LOVE YOU
CHÀO MỪNG NĂM HỌC MỚI!
© I Love You 2009-2019
Tìm kiếm hiển thị ngay trên Blog

Chào mừng quý vị đến với I LOVE YOU - Website của Nguyễn Xuân Đồng.
Thăm lúa - Trần Hữu Thung
Mặt trời càng lên tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo đầu ngọn gió
Sương lại càng long lanh.
Bay vút tận trời xanh
Chiền chiện cao cùng hót
Tiếng chim nghe thánh thót
Văng vẳng khắp cánh đồng
Đứng chống cuộc em trông
Em thấy lòng khấp khởi
Bởi vì em nhớ lại
Một buổi sớm mai ri
Anh tình nguyện ra đi
Chiền chiện cùng cao hót
Lúa cũng vừa sậm hột
Em tiễn anh lên đường
Chiếc xắc mây anh mang
Em nách mo cơm nếp
Lúa níu anh trật dép
Anh cúi sửa vội vàng
Vượt cánh đồng tắt ngang
Đến bờ ni anh bảo
"Ruộng mình quên cày xáo
Nên lúa chín không đều
Nhớ lấy để mùa sau
Nhà cố làm cho tốt"
Xa xa nghe tiếng hát
Anh thấy rộn trong lòng
Sắp đến chỗ người đông
Anh bảo em ngoái lại
Cam ba lần ra trái
Bưởi ba lần ra hoa
Anh bước chân đi ra
Từ ngày đầu phòng ngự
Bước qua kì cầm cự
Anh có gửi lời về
Cầm thư anh mân mê
Bụng em giừ phấp phới
Anh đang mùa thắng lợi
Lúa em cũng chín rồi
Lúa tốt lắm anh ơi
Giải thi đua em giật
Xoè bàn tay bấm đốt
Tính cũng bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng bảo đừng mong
Riêng em thì em nhớ
Chuối đầu vườn đã lổ
Cam đầu ngõ đã vàng
Em nhớ ruộng nhớ vườn
Không nhớ anh răng được
Mùa sau kề mùa trước
Em vác cuốc thăm đồng
Lúa sây hạt nặng bông
Thấy vui vẻ trong lòng
Em mong ngày chiến thắng.
01-01-1950
LỜI BÌNH
Bài thơ Thăm lúa của nhà thơ Trần Hữu Thung có nội dung giống như một truyện ngắn. Có nhân vật (hai vợ chồng), có cốt truyện mạch lạc (vợ tiễn chồng ra mặt trận, chờ đợi bốn năm chưa thấy chồng về, nhưng vẫn thuỷ chung chờ đợi, tin ngày chiến thắng) và có cả tính cách nhân vật, anh chồng là một chàng trai bẽn lẽn (Sắp tới chỗ người đông/ Anh bảo em ngoái lại) và chị vợ là người tần tảo, đảm đang, thuỷ chung, nồng nàn (Ai cũng nhủ đừng mong, Riêng em thì em nhớ). Vậy thì bài thơ trả lời ngay rằng, bài thơ sống được chính là vì cái "chất truyện" thấm đẫm trong hồn cốt và nhờ cái giọng thơ mộc mạc, chân chất, cái điệu thơ như một bài ví dặm của xứ Nghệ quê hương nhà thơ!
Nhân vật và tâm trạng của các nhân vật trong cuộc đưa tiễn trong thơ Trần Hữu Thung gần gũi với chúng ta, và nhất là tình người trong cảnh chia ly:
Cái sắc mây anh mang
Em nách mo cơm nếp
… Xa xa nghe tiếng hát
Anh thấy rộn trong lòng…
Chia tay người yêu (hoặc vợ) để ra trận, để đi chiến đấu cho một lý tưởng tốt đẹp là giải phóng đất nước, thì cái "mo cơm nếp" của người vợ và đôi dép cao su của người chồng (lúa níu anh trật dép) của Trần Hữu Thung, những chi tiết ấy cũng chỉ là cái hiện đại bên ngoài, cái vẻ ngoài của vợ chồng người chiến sỹ mà thôi. Cái hiện đại đích thực nằm bên trong, nghĩa là trong tâm hồn và bản lĩnh của con người hiện đại. Ra đi rồi, người lính dặn vợ ở lại điều gì. Thì đây, điều quan thiết nhất của anh là:
"Ruộng mình quên cày xáo
Nên lúa chín không đều
Nhớ lấy để mùa sau
Nhà có làm cho tốt!"
Nếu có một lỗi no âu còn vướng bận trong lòng người chiến sỹ nông dân ấy thì đó là nỗi lo cho ruộng đồng, cho mùa màng mà thôi! Bản chất tính cách và tâm hồn nhân vật thơ được thể hiện rõ ràng được khắc hoạ rất điển hình trong lời đối thoại kia. Không những thế, để thể hiện bản chất của người đàn ông "ra đi không vương thê nhi", nhà thơ chỉ biết hai câu rất nhẹ nhàng, giản dị:
Sắp đến chỗ người đông
Anh bảo em ngoái lại
Viết hai câu thơ trên, tôi cứ nghĩ nhà thơ sẽ mỉm cười hóm hỉnh và tự chiêu một ngụm nước chè, nếu không phải là một ly rượu!
Nửa bài thơ còn lại, nhà thơ giành để mô tả người vợ nơi quê nhà, thể hiện tâm trạng, tình cảm của một "nàng vọng phu" mới. Nàng vọng phu hiện đại đếm tháng ngày xa chồng bằng mùa vụ cây trồng, hơn thế, nàng còn đếm những tháng năm xa bằng những "mùa chiến dịch".
Cam ba lần có trái
Bưởi ba lần ra hoa
Anh bước chân ra đi
Từ ngày đầu phòng ngự
Bước qua kỳ cầm cự…
Thật là một cách đếm tháng ngày vô chừng độc đáo, có một không hai, mà có lẽ duy chỉ có những người đàn bà xa chồng (người xứ Nghệ) mới đếm được! Đợi mãi rồi cũng nhận được một lá thư từ chiến trường gửi về, niềm vui vô hạn ấy được thể hiện lặng lẽ và kín đáo làm sao: Cầm thư anh mân mê /Bụng em giờ phấp phới. Trong niềm vui ấy, người phụ nữ hậu phương liền ngầm nảy ra ý định thi đua với chồng nơi tiền tuyến:
Anh đang mùa thắng lợi
Lúa em cũng chín rồi
Lúa tốt lắm anh ơi
Giải thi đua em giật
Thế rồi, một năm nữa lại trôi đi, nỗi nhớ thương trong lòng người thiếu phụ nơi quê nhà càng thêm cháy bỏng. Chị lại bắt đầu đếm từng ngày, từng ngày trôi qua trên những đốt ngón tay:
Xòe bàn tay bấm đốt
Tính đã bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ
Trong những câu thơ trên, Trần Hữu Thung tỏ ra rất lão luỵên và tinh diệu trong xử lý ngôn ngữ. Ba tiếng trông, mong, nhớ được nhà thơ sử dụng với ba màu sắc tình cảm khác nhau. Nếu như trông và mong có quan hệ tương tác giữa hai đầu thương nhớ, có thể làm cho người ở nơi xa kia nóng ruột, thì người phụ nữ thương chồng này chỉ chọn chữ "nhớ" thôi. Nhớ nghĩa là chỉ từ một phía, phía chủ thể, phía chủ quan, phía hi sinh hứng chịu, phía đợi chờ…
Nới nhớ sẽ không ảnh hưởng gì đến người được nhớ, để người ấy yên tâm mà đánh giặc, không máy mắt, không nóng ruột, sốt lòng. Rõ ràng biện pháp tu từ ở đây là hết sức tự giác, thể hiện một bản lĩnh rất cao cường. Sự phân trần tiếp sau đó của người thiếu phụ mới chân thành và cảm động lòng người làm sao:
Chuối đầu vườn đã lổ
Cam đầu ngõ đã vàng
Em nhớ ruộng, nhớ vườn
Không nhớ anh răng được?!
Bài thơ khép lại bằng khổ thơ cuối thanh thản hơn, tự tin và cũng tin tưởng hơn vào ngày thắng lợi. Dường như chịu đựng mãi rồi cũng quen người phụ nữ không đếm từng ngày nữa. Nhìn vào mùa màng bội thu, biết công sức của mình đã được đền đáp, chị chỉ còn trông chờ vào ngày chiến thắng anh sẽ về.
Mùa sau kề mùa trước
Em vác cuốc thăm đồng
Lúa sây hạt nặng bông
Thấy vui vẻ trong lòng
Em trông ngày chiến thắng!
Giống như các nhà thơ cùng thời, trong bài thơ Thăm lúa, nhà thơ Trần Hữu Thung cũng sử dụng rất nhiều từ địa phương (vùng Nghệ Tĩnh). Nào là: Sáng mai ni, đến bờ ni, nào là: bụng em chừ, ai cũng nhủ, chuối … đã lổ, răng được… Những từ ngữ địa phương ấy không những không làm "địa phương hoá" bài thơ mà còn tạo được một nét duyên thầm cho phong cách thơ, tạo nên sự chân thực của cảm xúc, màu sắc riêng tư của tác giả để bài thơ trở nên đặc sắc, riêng biệt, không thể trộn lẫn. Ông vẫn rõ là nhà thơ dân gian, với tất cả phẩm chất cao quý của từ này.
(ST)
Ảnh nhà thơ Trần Hữu Thung và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo
Nguyễn Xuân Đồng @ 22:38 22/11/2011
Số lượt xem: 4142
- NÔNG DÂN - Nguyễn Sĩ Đại (15/10/11)
- Chào thầy! Xin tặng thầy một bài thơ tôi mới làm để làm quen. Chúc thầy vui, khoẻ, hạnh phúc! (17/08/11)
- Nỗi niềm Thị Nở - Quang Huy (05/07/11)
- Em nào giận anh đâu! (27/11/10)
- Từ biệt (25/10/10)
THỬ HIỂN THỊ CODE



THĂM LÚA - MỘT KHÚC NGÂM
Vũ Nho
Có thể coi Thăm lúa như là một khúc Chinh phụ ngâm mới, gắn liền với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Chàng trẻ tuổi chỉ là một trai làng ra đi giản dị, nhẹ nhàng, không ồn ào như chinh phu "Giã nhà đeo bức chiến bào - Thét roi cầu vị ào ào gió thu". Còn nàng chinh phụ là một nữ nông dân đảm đang, khoẻ khoắn. Nhân vật mới, tình cảm mới, cho nên mở đề của khúc ngâm cũng mới. Không phải là cảnh đêm tối, khói lửa :
Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam tuyền mờ mịt thức mây
Mà là một khung cảnh đồng quê tươi tắn, sống động, chan hoà màu sắc âm thanh.
Mặt trời càng lên tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh
Bay vút tận trời xanh
Chiền chiện cao tiếng hót
Màu xanh da trời, màu đỏ mặt trời, màu vàng lúa chín, màu xanh của cỏ đầm sương. Và màu long lanh cầu vồng bảy sắc đang ánh lên trên những giọt sương được "treo" rất khéo léo ở đầu ngọn cỏ - bởi bàn tay trang hoàng tinh xảo của thiên nhiên. Tất cả các màu sắc đó lại đang biến chuyển, đang đậm dần lên theo cách so sánh tăng tiến : càng lên tỏ, thêm vàng, càng long lanh…
Trên cánh đồng đẹp như tranh ấy vang khúc nhạc đồng quê. Tiếng chim chiền chiện thánh thót, văng vẳng khắp cánh đồng. Tiếng chim đánh thức, tiếng chim dẫn dắt những hồi tưởng của người phụ nữ thăm đồng, và dắt đưa cả người đọc vào quá khứ. Cũng là tiếng chim, nhưng nó không giống "Một tiếng chim kêu sáng cả rừng" của Khương Hữu Dụng, cũng khác "Tiếng chim tha nắng rải đồng vàng thơm" của Định Hải, hay tiếng chim "Khoe với trời xanh trái chín thơm" của Tô Hà. Đây là tiếng chim gợi nhớ về một buổi tiễn đưa cách đã bốn năm. Cảnh tiễn đưa ấy không có màu sắc "dặc dặc buồn" mà tha thiết trong sáng vì người đi và người tiễn đều hiểu ý nghĩa cuộc ra đi giản dị mà thiêng liêng : đi đánh giặc giữ nước. Đã bốn năm rồi nhưng không một chi tiết nào bị bỏ sót, cũng không có một dấu hiệu nào nhạt phai. Từ khung cảnh "buổi sáng mai ri", từ chuyện anh mang sắc mây, chị mang cơm nếp, đến cả chi tiết lúa níu trật dép anh cúi sửa vội vàng cho đến lời dặn dò mộc mạc ở đầu bờ ruộng…Tất cả như đang là buổi sáng ngày hôm ấy chứ không phải là buổi sáng tái hiện trong trí nhớ hôm nay. Phải yêu thương đằm thắm lắm mới có thể nhớ tỉ mỉ đến như vậy.
Khác người chinh phụ xưa chỉ buồn và nhớ, người chinh phụ mới này nhớ nhưng biến nỗi nhớ thành hành động, thành việc làm trong một tinh thần kháng chiến "hậu phương thi đua với tiền phương". Chị nhớ anh, nhớ từng ngày, từng tháng, từng mùa, từng năm :
Cam ba lần có trái
Bưởi ba lần ra hoa
Thật ra mùa hoa cam hoa bưởi cùng một thời gian, chỉ là ba năm thôi. Nhưng mà đếm "sáu lần" như vậy là rất nhớ, rất mong. Tuy nhiên, cách đếm thời gian bằng mùa hoa trái vẫn là cách đếm truyền thống. Rồi "Xoè bàn tay bấm đốt" để có thể tính toán tỉ mỉ, chi tiết hơn, nhưng vẫn chưa phải là mới. Nét mới đặc sắc chỉ có người phụ nữ kháng chiến này mới có, đó là tính thời gian gắn liền với bước đi của chiến dịch, gắn liền với các giai đoạn kháng chiến :
Anh bước chân ra đi
Từ ngày đầu phòng ngự
Bước qua kì cầm cự
Anh có gửi lời về
Nét mới của chị còn thể hiện trong sự vượt lên những niềm tin hơi hướng mê tín cũ :
Người ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ
Thật ra "người ta" và "ai" cũng khuyên, cũng nhủ như thế, không phải là họ là người có ý xấu hay không có sự cảm thông. Những người xung quanh làm thế vì họ e rằng trông, mong nhiều sẽ làm cho người chiến sĩ không an lòng, dễ bồn chồn nơi trận mạc ("Mẹ già ơi thương nhớ dẫu dâng trào - Mẹ cứ nhắc tên con đừng lo con vấp ngã", Nguyễn Trọng Tạo - Những người lính đi qua thành phố). Với tình cảm mộc mạc và chân chất, chị vẫn nhớ mong anh với cái lí giản đơn :
Em nhớ ruộng nhớ vườn
Không nhớ anh răng được
Nỗi nhớ niềm mong ấy không làm chị ủ dột, héo hon trong khắc khoải đợi chờ. Nó làm thành sức mạnh tinh thần, nó biến thành sức mạnh vật chất để làm nên những vụ lúa "sây hạt nặng bông". Chị cùng hậu phương góp của, góp công để những chiến sĩ ngoài tiền tuyến ăn no, đánh thắng.
Bài thơ tràn đầy nỗi nhớ, tràn đầy niềm mong, nhưng cũng tràn đầy sự khấp khởi, phơi phới - tràn đầy niềm vui vẻ lạc quan (Em thấy lòng khấp khởi - Bụng em giừ phấp phới - Thấy vui vẻ trong lòng). Viết về tình yêu trong chiến tranh mà không có chút gì bi luỵ, không một chút tang tóc, thương đau, những vẫn lay động trái tim, vẫn xúc động lòng người. Viết được như bài Thăm lúa là rất giỏi. Có lẽ, nhà thơ của đồng quê, nói tiếng nói chắc khoẻ của người sinh ra hạt lúa, củ khoai, tác giả tắm trong đời sống tình cảm mộc mạc, khoẻ khoắn của người nông dân và đã mang cái tinh thần khoẻ khoắn lực lưỡng ấy vào thơ. Vậy nên "khúc ngâm" của Trần Hữu Thung mang một vẻ rất khác lạ trong mạch thơ ca mà ta đã gặp.
In trong Thơ Những vẻ đẹp, nxb Giáo dục, 2008.
ĐT TỚI THĂM THẦY X.ĐỒNG
Tháng chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam! cảm ơn Thầy trong thời gian qua đã giao lưu chia sẻ. Chúc Thầy cùng gia đình luôn mạnh khỏe, an lành và hạnh Phúc!
Ngày Nhà giáo Việt Nam sắp đến , TT chúc thầy nhiều sức khoẻ , nhiều niềm vui ,may mắn ,thuận lợi , công tác đạt kết quả tốt và hạnh phúc thật nhiều !